21:10 Thứ năm, 29/06/2017

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 16


Hôm nayHôm nay : 294

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 5576

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 94682

trung tam tin hoc

Điều kiện tự nhiên

Quảng Trị là tỉnh thuộc vùng Bắc Trung bộ. Toạ độ địa lý của tỉnh từ 16018' đến 17010' vĩ độ Bắc và 106032' đến 107034' kinh độ Đông. Phía Bắc giáp huyện Lệ Thủy (tỉnh Quảng Bình); phía Nam giáp huyện Phong Điền và A Lưới (tỉnh Thừa Thiên Huế); phía Đông giáp biển Đông; phía Tây giáp nước CHDCND Lào(với khoảng 206 km đường biên giới).

Các nguồn tài nguyên

Theo kết quả điều tra điều chỉnh bổ sung bản đồ đất (tỷ lệ 1/50.000) cho thấy toàn tỉnh có 11 nhóm đất và chia thành 32 loại đất. Diện tích và phạm vi phân bố như sau:

Thực trạng môi trường, môi trường

Là một tỉnh vùng Duyên hải có hơn 80% diện tích đồi núi với thảm thực vật phát triển (có độ che phủ rừng 46,2%), các khu vực đô thị, các trung tâm kinh tế - xã hội của tỉnh chưa phát triển mạnh nên mức độ ô nhiễm môi trường nước, không khí, đất đai chưa nghiêm trọng.

Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường

- Quảng Trị nằm ở vị trí là điểm giao thoa giữa 2 miền nam - bắc, có tuyến quốc lộ 1A, tuyến đường sắt (Bắc - Nam) chạy qua, có tuyến đường xuyên Á (Quốc lộ 9) nối từ cảng Cửa Việt đến Lao Bảo, La Lay, qua Lào và Thái Lan... tạo cho Quảng Trị có nhiều thuận lợi, để mở rộng giao lưu kinh tế, văn hóa, khoa học và công nghệ trong nước và quốc tế.

Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trong những năm qua tình hình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh đạt mức khá và ổn định qua các thời kỳ. Chất lượng tăng trưởng của một số ngành và lĩnh vực kinh tế - xã hội tiếp tục được cải thiện.

Thực trạng phát triển các ngành kinh tế

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản giai đoạn 2000 - 2010 đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 4,4%/năm (giai đoạn 2001 - 2005 đạt 4,74%; giai đoạn 2006 - 2010 đạt 4%/năm), trong đó nông nghiệp tăng 4,63%, thuỷ sản tăng 9,6%, lâm nghiệp tăng 3,4%.

Dân số, lao động, việc làm và thu nhập

Theo số liệu tổng điều tra dân số, dân số toàn tỉnh là 599.221người (trong đó nữ giới có 301.763 người và nam giới có 297.458 người), dân số khu vực thành thị chiếm 28,02%, chiếm 71,98%.

Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn

Toàn tỉnh gồm có 13 đô thị, trong đó có 1 thành phố (đô thị loại III), 1 thị xã (đô thị loại IV) và 11 thị trấn (đô thị loại V). Các đô thị của tỉnh tạo thành 2 chuỗi đô thị theo trục Bắc - Nam và Đông - Tây. Tổng diện tích đô thị là 17.782 ha, chiếm 3,75% diện tích tự nhiên toàn tỉnh và dân số đô thị năm 2009 có 167.954 người, chiếm 28,03% dân số toàn tỉnh. Chỉ tiêu đô thị đạt 2,74 đô thị/1000 km2.

Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội

Quảng Trị là tỉnh có hệ thống giao thông đa dạng, bao gồm cả đường bộ, đường sắt, đường thuỷ nội địa và đường biển.

Đánh giá chung về thực trạng phát triển kinh tế - xã hội tác động đến việc sử dụng đất

Trong những năm qua kinh tế tỉnh Quảng Trị đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện.

Xu thế biến đổi khí hậu ở Quảng Trị trong những năm qua

Quảng Trị là tỉnh chịu ảnh hưởng của hầu hết các loại thiên tai thường xảy ra ở Việt Nam nhưng với tần suất cao hơn và mức độ ảnh hưởng lớn như lũ lụt, bão, áp thấp nhiệt đới (ATNĐ), lũ quét, hạn hán, lốc tố, dông, sét, sạt lở đất, úng hạn, xâm nhập mặn, triều cường,...

Tác động của biến đổi khí hậu đến việc sử dụng đất

- Tác động của biến đổi khí hậu đến các loại hình sử dụng đất: Do BĐKH, đất nông nghiệp có thể bị giảm, một phần diện tích sẽ không sử dụng được nữa do ngập úng, khô hạn, xói mòn hoặc sẽ phải chuyển đổi thành đất ở cho những hộ dân phải di rời do ảnh hưởng của thiên tai (ngập lụt, sạt lở đất).

Đánh giá tổng quan tác động của biến đổi khí hậu đến việc sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Quảng Trị

Những thay đổi về điều kiện thời tiết (nhiệt độ, lượng mưa, hiện tượng khí hậu cực đoan, thiên tai…) đã làm diện tích đất khô hạn, ngập úng, xói mòn, rửa trôi, sạt lở… xảy ra ngày càng nhiều hơn.

Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất và tổ chức thực hiện

Thực hiện Chỉ thị số 05/2004/CT-TTg ngày 09/12/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thi hành Luật Đất đai năm 2003, UBND tỉnh đã ban hành nhiều văn bản để chỉ đạo, hướng dẫn cho các địa phương trong tỉnh thực hiện việc quản lý và sử dụng đất.

Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính

Công tác xác định ĐGHC và giải quyết tranh chấp các cấp: Thực hiện Chỉ thị 364/CT ngày 06/11/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) về việc phân định địa giới hành chính đến nay toàn tỉnh đã lập được bộ hồ sơ địa giới hành chính khá hoàn chỉnh về địa giới hành chính các cấp.

Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất

Bản đồ đất, phân hạng đất: Tỉnh đã hoàn thành xây dựng bản đồ đất năm 2000 tỷ lệ 1/50.000.

Quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất

Xác định rõ vai trò quan trọng của công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nên trong những năm qua tỉnh đã triển khai việc lập và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất và kế hoạch sử dụng đất:

Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất

Công tác giao đất, cho thuê đất trên địa bàn tỉnh cơ bản được triển khai theo đúng trình tự, thủ tục và hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường, qua đó phần nào hạn chế và khắc phục được các vi phạm trong quản lý, sử dụng đất.

Việc đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Đến nay trên địa bàn tỉnh có 10 Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, trong đó cấp tỉnh có 1 văn phòng và cấp huyện có 9 văn phòng (huyện Cồn Cỏ chưa thành lập). Hệ thống hồ sơ, quản lý hồ sơ được chuẩn hóa theo đúng quy định.

Thống kê, kiểm kê đất đai

Công tác thống kê đất đai hàng năm của tỉnh đã được thực hiện ở cả 3 cấp theo đúng quy định của ngành. Hoàn thành công tác kiểm kê đất đai định kỳ 5 năm (năm 1995, 2000, 2005) và kiểm kê đất đai năm 2010 (theo Chỉ thị số 618/CT-TTg).

1, 2, 3, 4  Trang sau