15:51 Thứ năm, 29/06/2017

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 3


Hôm nayHôm nay : 128

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 5410

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 94516

trung tam tin hoc

Trang nhất » Tin Tức » Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội

Đánh giá tổng quan tác động của biến đổi khí hậu đến việc sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Quảng Trị

Những thay đổi về điều kiện thời tiết (nhiệt độ, lượng mưa, hiện tượng khí hậu cực đoan, thiên tai…) đã làm diện tích đất khô hạn, ngập úng, xói mòn, rửa trôi, sạt lở… xảy ra ngày càng nhiều hơn.

Tác động của biến đổi khí hậu đến việc sử dụng đất

- Tác động của biến đổi khí hậu đến các loại hình sử dụng đất: Do BĐKH, đất nông nghiệp có thể bị giảm, một phần diện tích sẽ không sử dụng được nữa do ngập úng, khô hạn, xói mòn hoặc sẽ phải chuyển đổi thành đất ở cho những hộ dân phải di rời do ảnh hưởng của thiên tai (ngập lụt, sạt lở đất).

Xu thế biến đổi khí hậu ở Quảng Trị trong những năm qua

Quảng Trị là tỉnh chịu ảnh hưởng của hầu hết các loại thiên tai thường xảy ra ở Việt Nam nhưng với tần suất cao hơn và mức độ ảnh hưởng lớn như lũ lụt, bão, áp thấp nhiệt đới (ATNĐ), lũ quét, hạn hán, lốc tố, dông, sét, sạt lở đất, úng hạn, xâm nhập mặn, triều cường,...

Đánh giá chung về thực trạng phát triển kinh tế - xã hội tác động đến việc sử dụng đất

Trong những năm qua kinh tế tỉnh Quảng Trị đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện.

Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội

Quảng Trị là tỉnh có hệ thống giao thông đa dạng, bao gồm cả đường bộ, đường sắt, đường thuỷ nội địa và đường biển.

Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn

Toàn tỉnh gồm có 13 đô thị, trong đó có 1 thành phố (đô thị loại III), 1 thị xã (đô thị loại IV) và 11 thị trấn (đô thị loại V). Các đô thị của tỉnh tạo thành 2 chuỗi đô thị theo trục Bắc - Nam và Đông - Tây. Tổng diện tích đô thị là 17.782 ha, chiếm 3,75% diện tích tự nhiên toàn tỉnh và dân số đô thị năm 2009 có 167.954 người, chiếm 28,03% dân số toàn tỉnh. Chỉ tiêu đô thị đạt 2,74 đô thị/1000 km2.

Dân số, lao động, việc làm và thu nhập

Theo số liệu tổng điều tra dân số, dân số toàn tỉnh là 599.221người (trong đó nữ giới có 301.763 người và nam giới có 297.458 người), dân số khu vực thành thị chiếm 28,02%, chiếm 71,98%.

Thực trạng phát triển các ngành kinh tế

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản giai đoạn 2000 - 2010 đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 4,4%/năm (giai đoạn 2001 - 2005 đạt 4,74%; giai đoạn 2006 - 2010 đạt 4%/năm), trong đó nông nghiệp tăng 4,63%, thuỷ sản tăng 9,6%, lâm nghiệp tăng 3,4%.

Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trong những năm qua tình hình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh đạt mức khá và ổn định qua các thời kỳ. Chất lượng tăng trưởng của một số ngành và lĩnh vực kinh tế - xã hội tiếp tục được cải thiện.

Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường

- Quảng Trị nằm ở vị trí là điểm giao thoa giữa 2 miền nam - bắc, có tuyến quốc lộ 1A, tuyến đường sắt (Bắc - Nam) chạy qua, có tuyến đường xuyên Á (Quốc lộ 9) nối từ cảng Cửa Việt đến Lao Bảo, La Lay, qua Lào và Thái Lan... tạo cho Quảng Trị có nhiều thuận lợi, để mở rộng giao lưu kinh tế, văn hóa, khoa học và công nghệ trong nước và quốc tế.

Thực trạng môi trường, môi trường

Là một tỉnh vùng Duyên hải có hơn 80% diện tích đồi núi với thảm thực vật phát triển (có độ che phủ rừng 46,2%), các khu vực đô thị, các trung tâm kinh tế - xã hội của tỉnh chưa phát triển mạnh nên mức độ ô nhiễm môi trường nước, không khí, đất đai chưa nghiêm trọng.

Các nguồn tài nguyên

Theo kết quả điều tra điều chỉnh bổ sung bản đồ đất (tỷ lệ 1/50.000) cho thấy toàn tỉnh có 11 nhóm đất và chia thành 32 loại đất. Diện tích và phạm vi phân bố như sau:

Điều kiện tự nhiên

Quảng Trị là tỉnh thuộc vùng Bắc Trung bộ. Toạ độ địa lý của tỉnh từ 16018' đến 17010' vĩ độ Bắc và 106032' đến 107034' kinh độ Đông. Phía Bắc giáp huyện Lệ Thủy (tỉnh Quảng Bình); phía Nam giáp huyện Phong Điền và A Lưới (tỉnh Thừa Thiên Huế); phía Đông giáp biển Đông; phía Tây giáp nước CHDCND Lào(với khoảng 206 km đường biên giới).