21:04 Thứ tư, 23/08/2017

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 72


Hôm nayHôm nay : 179

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 2509

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 100550

trung tam tin hoc

Trang nhất » Tin Tức » Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội

Các nguồn tài nguyên

Thứ hai - 09/02/2015 08:47
Theo kết quả điều tra điều chỉnh bổ sung bản đồ đất (tỷ lệ 1/50.000) cho thấy toàn tỉnh có 11 nhóm đất và chia thành 32 loại đất. Diện tích và phạm vi phân bố như sau:
1.2.1. Tài nguyên đất
Theo kết quả điều tra điều chỉnh bổ sung bản đồ đất (tỷ lệ 1/50.000) cho thấy toàn tỉnh có 11 nhóm đất và chia thành 32 loại đất. Diện tích và phạm vi phân bố như sau:
a. Nhóm cồn cát, bãi cát và đất cát biển - C (Arenosols - AR): chiếm 7,32% diện tích tự nhiên. Nhóm đất này bao gồm các loại đất cụ thể như sau:
- Bãi cát ven sông, ven biển (Cb): chiếm 0,03% diện tích tự nhiên. Loại đất này tập trung chủ yếu ở Đa Krông và huyện Hải Lăng. 
- Cồn cát trắng (Cc): chiếm 4,58% diện tích tự nhiên. Phân bố chủ yếu ở huyện Gio Linh, Hải Lăng, Triệu Phong, Vĩnh Linh.
- Cồn cát vàng (Cv): chiếm 0,75% diện tích tự nhiên. Phân bố chủ yếu ở huyện Vĩnh Linh, Cam Lộ. 
- Đất cát biển (C): chiếm 1,95 % diện tích tự nhiên. Phân bố ở huyện Vĩnh Linh, Triệu Phong, Hải Lăng, Gio Linh, Cam Lộ và đảo Cồn Cỏ. 
b. Nhóm đất mặn - M (Salic Fluvisols - FLS): chiếm 0,30% diện tích tự nhiên, bao gồm các loại đất sau:
- Đất mặn nhiều (Mn): chiếm 0,04% diện tích tự nhiên. Phân bố tập trung gần khu vực Cửa Tùng, địa hình tương đối thấp, ven đầm phá, ảnh hưởng mặn do thủy triều.
- Đất mặn trung bình (M): chiếm 0,02% diện tích tự nhiên. Phân bố tập trung chủ yếu ở xã Gio Mai, huyện Gio Linh.
- Đất mặn ít: chiếm 0,24% diện tích tự nhiên. Phân bố ở huyện Triệu Phong, Gio Linh và Vĩnh Linh.  
c. Nhóm đất phèn - Sj (Sali Orthi  Thionic Fluvisols - FLt-o-s): chiếm 0,09% diện tích tự nhiên (toàn bộ là đất phèn mặn ít và trung bình). Phân bố ở 2 cửa sông Thạch Hãn - Cửa Việt và Bến Hải - Cửa Tùng. 
d. Nhóm đất phù sa - P (Fluvisols - FL): chiếm 8,53% diện tích tự nhiên. Nhóm đất này phân bố ven sông, suối trong tỉnh. Trong đó:
- Đất phù sa được bồi (Pb): chiếm 1,65% diện tích tự nhiên của tỉnh. 
- Đất phù sa không được bồi (P): chiếm 1,48% diện tích tự nhiên. 
- Đất phù sa glây (Pg): chiếm 4,17% diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Loại đất này phân bố ở 7/10 huyện, thị (trừ huyện Đakrông, Hướng Hoá và huyện đảo Cồn Cỏ ), trong đó nhiều nhất là huyện Hải Lăng và Triệu Phong.
- Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng (Pf): chiếm 1,16% diện tích tự nhiên.
- Đất phù sa ngòi suối (Py): chiếm 0,08% diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Phân bố ở các huyện Cam Lộ, Hướng Hoá, Triệu Phong, Hải Lăng, thành phố Đông Hà.
e. Nhóm đất lầy và đất than bùn - GL (Gley sols and histosols): Có 405 ha, chiếm 0,09% diện tích tự nhiên. Đất được hình thành ở những nơi thấp, trũng, ứ đọng nước và những nơi có mức nước ngầm nông.
- Đất lầy (J): chiếm 0,07% diện tích tự nhiên. Loại đất này tập trung nhiều ở xã Cam Chính (Cam Lộ). 
- Đất than bùn (T): chiếm 0,01% diện tích tự nhiên. Loại đất này tập trung nhiều ở các xã Gio Châu, Gio Quang của Gio Linh và xã Hải Vĩnh huyện Hải Lăng. 
f. Nhóm đất xám bạc màu trên phù sa cổ - AC (Acrisols): chiếm 0,27% diện tích tự nhiên, bao gồm các loại đất sau: 
-  Đất xám trên phù sa cổ (ACh): chiếm 0,15% diện tích tự nhiên, tập trung toàn bộ ở huyện Cam Lộ. 
- Đất bạc màu trên phù sa cổ (ACab): chiếm 0,10% diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Phân bố tập trung tại huyện Cam Lộ. 
- Đất xám glây trên phù sa cổ (ACg): chiếm 0,02% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, tập trung ở huyện Cam Lộ.
g. Nhóm đất đen: Có 79 ha. Toàn bộ là đất đen trên bazan (R) và ở huyện Hướng Hoá. 
h. Nhóm đất đỏ vàng - AC (Acrisols): chiếm 75,25% diện tích tự nhiên. Đây là nhóm đất có diện tích lớn nhất và phân bố ở các huyện, thị, thành phố. 
- Đất nâu tím trên đá sét màu tím (Fe): chiếm 6,87% diện tích tự nhiên. Tập trung chính ở huyện Đakrông, Hướng Hoá. 
- Đất nâu đỏ trên đá bazan (Fk): chiếm 3,35% diện tích tự nhiên. Phân bố ở huyện Đakrông, huyện Hướng Hoá, Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ. 
- Đất nâu vàng trên đá bazan (Fu): chiếm 0,88% diện tích tự nhiên. Phân bố ở huyện Hướng Hoá, Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ. 
- Đất vàng đỏ trên đá biến chất (Fj): chiếm 9,44% diện tích tự nhiên.
- Đất đỏ vàng trên đá Granit (Fa): chiếm 10,46% diện tích tự nhiên.
- Đất vàng nhạt trên đá cát (Fq): chiếm 11,99% diện tích tự nhiên. 
- Đất nâu vàng trên phù sa cổ (Fp): chiếm 2,15% diện tích tự nhiên.
- Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước (Fl): chiếm 0,71% diện tích tự nhiên. 
- Đất đỏ vàng trên đá sét (Fs): chiếm 29,42% diện tích tự nhiên. 
i. Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi - Acu (Humic Acrisols): chiếm 2,29% diện tích tự nhiên, bao gồm các loại đất sau:
- Đất mùn vàng đỏ trên đá biến chất (Hj): chiếm 0,46% diện tích tự nhiên. Phân bố chủ yếu huyện Đa Krông, huyện Hướng Hóa, huyện Vĩnh Linh. 
- Đất mùn vàng đỏ trên đá Granit (Ha): chiếm 1,83% diện tích tự nhiên. Phân bố chủ yếu ở 2 huyện Đakrông và huyện Hướng Hoá. 
k. Nhóm đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ - D (Dystric Gleysols): chiếm 0,40% diện tích tự nhiên, phân bố ở hầu hết các huyện.
l. Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá - E (Dystric Leptosols): chiếm 0,89% diện tích tự nhiên. 
Còn lại là diện tích sông suối và mặt nước chuyên dùng; núi đá không có rừng cây (chiếm 4,62% diện tích tự nhiên).
1.2.2. Tài nguyên nước
* Nguồn nước mặt: Nằm trong vùng có lượng mưa tương đối lớn (trung bình năm 2.100-2.400 mm) nên dòng chảy của các sông suối trong tỉnh Quảng Trị cũng khá dồi dào. Tổng lượng dòng chảy năm, trên toàn bộ sông suối tỉnh Quảng Trị là 6,673 km3 (trong đó: hệ thống sông Bến Hải 1,31 km3, Thạch Hãn khoảng 3,92 km3, Ô Lâu 0,50 km3 và Sê Păng Hiêng 1,05 km3). Ngoài ra trên địa bàn tỉnh có 200 công trình hồ chứa (tổng dung tích hồ chứa các loại cung cấp 211 triệu m3). Mức đảm bảo nước tính trung bình hàng năm hiện tại của tỉnh Quảng Trị là 10.750 m3/người, cao hơn nhiều so với trung bình của cả nước (4.750 m3/người). 
Kết quả phân tích chất lượng nước mặt cho thấy: hầu hết các chỉ tiêu vật lý - hóa học - vi sinh của các mẫu nước sông trên địa bàn tỉnh còn khá tốt và nằm trong giới hạn của tiêu chuẩn chất lượng nước mặt loại B, một số chỉ tiêu đạt tiêu chuẩn chất lượng loại A (TCVN 5942 - 1995). 
* Nguồn nước ngầm: Nguồn nước ngầm ở Quảng Trị khá dồi dào. Độ sâu mực nước ở trung tâm các lưu vực vào khoảng 1 - 2m, trên các cồn cát thì mực nước ngầm nằm sâu hơn (2 - 5m). Các tầng chứa nước là lỗ hổng ở Quảng Trị có bề dày khá lớn (10 - 30 m). Kết quả tính toán cho thấy tại Quảng Trị tổng trữ lượng nước ngầm tĩnh 1.656,8 triệu m3; tổng trữ lượng động thiên nhiên 1.094.690 m3/ngày; tổng trữ lượng khai thác tiềm năng 1.112.750 m3/ngày. Nhìn chung, nước nguồn nước ngầm đạt các tiêu chuẩn vệ sinh để sử dụng vào sản xuất và sinh hoạt.
1.2.3. Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản của tỉnh Quảng Trị bao gồm những khoáng sản chính sau đây:
- Vàng: Trên địa bàn tỉnh đã phát hiện được 19 điểm quặng nguồn gối nhiệt dịch và 3 điểm sa khoáng với tổng trữ lượng thăm dò dự kiến khoảng 47 - 48 tấn. Trong đó có 5 điểm quặng vàng rất có triển vọng là Vĩnh Ô (thuộc xã Vĩnh Ô huyện Vĩnh Linh), Sa Lam, Xi Pa, Đá Bàn, A Vao (thuộc xã Tà Long, Tà Rụt, A Vao huyện Đakrông), trong đó điểm quặng Vĩnh Ô, Tà Long, A Vao có trữ lượng lớn nhất (>20 tấn vàng).
- Titan: Phân bố trong dải cát dọc ven biển nhưng tập trung chủ yếu ở huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Hải Lăng. Tổng trữ lượng trên 500.000 tấn, có thể khai thác với khối lượng khoảng 10 - 20 nghìn tấn/năm.
- Cát thủy tinh: Phân bố chủ yếu ở huyện Gio Linh, Triệu Phong, Hải Lăng nhưng tập trung nhiều ở khu vực Cửa Việt. Dự báo trữ lượng trên địa bàn toàn tỉnh khoảng 125 triệu m3, chất lượng tốt, cho phép xây dựng nhà máy chế biến silicát, sản xuất thủy tinh và kính xây dựng.
- Cao lanh: Đã phát hiện được 03 điểm là Tà Long, A Pey (huyện ĐaKrông) và La Vang (huyện Hải Lăng) chất lượng khá tốt, đang tiếp tục thăm dò, thử nghiệm để đưa vào khai thác.
- Than bùn: Phân bố tập trung ở xã Hải Thọ (Hải Lăng) và xóm Cát, Trúc Lâm (Gio Linh) với tổng trữ lượng gần 400 ngàn tấn cho phép khai thác làm nguyên liệu sản xuất phân vi sinh với khối lượng khá lớn.
- Nguyên liệu xi măng: Quảng Trị là một trong ít tỉnh có đủ 3 nguyên liệu chủ yếu để sản xuất xi măng (đá vôi xi măng, sét xi măng, phụ gia xi măng). Trên địa bàn toàn tỉnh có 6 điểm lớn là Tân Lâm, Cam Thành, Tà Rùng, Khe Mèo, Động Tà Ri, Tà Rùng và Hướng Lập.
+ Mỏ đá vôi xi măng được phân bố tập trung ở huyện Cam Lộ và Hướng Hoá với các mỏ lớn như: Tân Lâm, Cam Thành, Tà Rùng. Theo dự báo tổng tài nguyên đá vôi xi măng của mỏ Tà Rùng hơn 3 tỷ tấn, Tân Lâm là 340 triệu tấn. 
+ Ngoài các mỏ đá vôi xi măng nêu trên, trong vùng còn có các điểm sét xi măng như Tân An, Cùa, Tà Rùng và mỏ phụ gia ở Vĩnh Hoà, Dốc Miếu, Cam Nghĩa… với trữ lượng lớn và chất lượng tốt. So với khu vực miền Trung, đây là một yếu tố rất thuận lợi cho việc xây dựng nhà máy xi măng lò quay với công suất trên 1 triệu tấn/năm.
- Nguyên vật liệu xây dựng tự nhiên: 
+ Đá xây dựng: Toàn tỉnh có 10 điểm, mỏ đá xây dựng, trữ lượng khoảng 500 triệu m3; phân bố chủ yếu dọc Quốc lộ 9 và đường Hồ Chí Minh trở về phía Tây. 
+ Cát, cuội, sỏi xây dựng: Có 16 mỏ và điểm, trữ lượng dự báo khoảng 3,9 triệu m3, tập trung ở phần thượng nguồn các sông.
+ Sét gạch ngói: Đã phát hiện 14 mỏ có trữ lượng khoảng 3 triệu tấn được phân bố nhiều ở Linh Đơn, Mai Lộc, Vĩnh Đại, Nhan Biều, Hải Thượng. 
+ Đá ốp lát: Có 4 điểm có tiềm năng và chất lượng là đá granit Chân Vân, đá hoa Khe Ngài, granodiorit Đakrông và gabro Cồn Tiên. 
- Nước khoáng: Qua khảo sát có 4 mỏ nước khoáng nóng là: Tân Lâm (Cam Lộ); Ba Ngao, Làng Rượu, Na Lân (Đakrông). Tất cả các điểm nước khoáng nóng đều thuộc nhóm nước khoáng carbonic. Các điểm nước khoáng có lưu lượng từ 0,4 đến 4 l/s, nhiệt độ từ 45 - 700C.
- Ngoài ra cách bờ biển Quảng Trị khoảng 100 - 120 km (gần đảo Cồn Cỏ) có mỏ nguồn khí metan chất lượng cao với trữ lượng 60 - 100 tỷ m3.
1.2.4. Tài nguyên rừng 
- Thực vật: Hiện tại hệ thực vật rừng của Quảng Trị có khoảng 1.053 loại thuộc 528 chi, 130 họ (trong đó có 175 loài cây gỗ). Trong đó rừng tự nhiên với các họ tiêu biểu là dẻ, re, mộc lan, dâu tằm, hoàng đàn...; rừng trồng với các loại cây đang được chú trọng đưa vào sản xuất gồm thông nhựa, các giống keo lá tràm, keo tai tượng, keo lai (giữa keo tai tượng và keo lá tràm), bạch đàn và một số loại cây bản địa khác như sến trung, muồng đen, sao đen. 
Theo kết quả kiểm kê đất đai năm 2010, toàn tỉnh diện tích đất có rừng tự nhiên 147.859 ha, tổng trữ lượng gỗ rừng tự nhiên khoảng 11 triệu m3; diện tích đất có rừng trồng 94.581 ha. 
- Động vật: Động vật rừng có khoảng 67 loài thú, 193 loài chim và 64 loài lưỡng cư bò sát (thuộc 17 họ, 3 bộ), trong đó có nhiều loài chim, thú hoang dã như: lợn rừng, nai, mang, khỉ, gấu, hổ, công, trĩ, gà lôi,... Tuy nhiên, trong những năm qua nguồn tài nguyên này có xu hướng giảm sút nghiêm trọng, nhiều loại thú quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng (đặc biệt gấu, hổ). 
1.2.5. Tài nguyên biển và ven biển 
- Quảng Trị có khoảng 75 km bờ biển với 2 cửa lạch quan trọng là Cửa Việt và Cửa Tùng. Vùng lãnh hải Quảng Trị khoảng 8.400 km2, ngư trường đánh bắt rộng lớn, có các loại hải sản có giá trị kinh tế cao như tôm hùm, mực nang, cua, hải sâm, tảo và một số loài cá quý hiếm... Tại khu vực Cửa Tùng xác định có khoảng 900 loài, trong đó có 40 - 50 loài có giá trị kinh tế. Tổng trữ lượng hải sản của vùng biển Quảng Trị khoảng 60.000 tấn, trong đó hải sản đặc sản chiếm 11,1%;  cá nổi 57,3%; cá đáy 31,6%. Tổng trữ lượng cho phép khai thác hàng năm khoảng 13 - 18 nghìn tấn. 
- Vùng ven biển có một số vũng kín gió, thuận lợi cho phát triển cảng, xây dựng các nhà máy đóng tàu, sửa chữa tàu biển và xây dựng các khu neo đậu tàu thuyền như khu vực Cửa Việt, Cửa Tùng, Mỹ Thủy. 
- Dọc bờ biển Quảng Trị có nhiều bãi tắm, cảnh quan đẹp, có các di tích lịch sử cách mạng có thể đưa vào khai thác du lịch như bãi tắm Cửa Việt, Cửa Tùng, Mỹ Thuỷ, Triệu Lăng, địa đạo Vịnh Mốc... có thể khai thác để phát triển du lịch.
Ngoài khơi cách đất liền 13 - 17 hải lý có huyện đảo Cồn Cỏ có vị trí quan trọng về kinh tế và quốc phòng, hiện đang xây dựng cảng cá và khu dịch vụ hậu cần nghề cá Cồn Cỏ để phục vụ cho tàu thuyền trong tỉnh và các tỉnh trong vùng. 
1.2.6. Tài nguyên nhân văn và du lịch
* Tài nguyên nhân văn: Quảng Trị là vùng đất có truyền thống yêu nước, hiếu học và lịch sử cách mạng nổi tiếng. Qua quá trình hình thành và phát triển, trên lãnh thổ Quảng Trị đã sản sinh những người con kiệt xuất cho đất nước (tiêu biểu là cố Tổng bí thư Lê Duẩn) và để lại nơi đây kho tàng sinh động nhất về di tích lịch sử, di tích chiến tranh cách mạng, trong đó: 3 di tích lịch sử văn hóa đặc biệt quan trọng của quốc gia, 17 di tích lịch sử xếp hạng quốc gia, 290 điểm di tích lịch sử cách mạng, 16 di tích văn hóa khảo cổ, 30 di tích văn hóa nghệ thuật. 
* Tài nguyên du lịch: Quảng Trị có nguồn tài nguyên du lịch khá phong phú, phân bố rộng khắp trên các địa bàn trong tỉnh và gần các trục giao thông chính nên rất thuận lợi cho khai thác và phát triển, với các loại hình như:
- Du lịch hoài niệm (chiến trường xưa): Có những địa danh nổi tiếng như: Thành cổ Quảng Trị, địa đạo Vịnh Mốc, cụm di tích đôi bờ Hiền Lương, Dốc Miếu, Cồn Tiên, Hàng dào điện tử Mc.Namara, Khe Sanh, Làng Vây, đường Hồ Chí Minh huyền thoại, nhà tù Lao Bảo, nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn, nghĩa trang Đường 9,... 
- Du lịch lịch sử văn hóa: Lễ hội chợ đình Bích La, chợ Phiên tại Cam Lộ; lễ hội Kiệu La Vang và lễ hội Cầu Ngư; lễ Bốc mồ (Vân kiều); lễ hội Mừng lúa mới (Pa Cô)... đặc biệt gần đây còn xuất hiện thêm lễ hội Thống nhất non sông, lễ hội nhịp cầu Xuyên Á, lễ hội thả hoa trên sông Thạch Hãn.
- Du lịch biển: Với những cảnh quan đẹp, còn nguyên sơ với những bãi tắm nổi tiếng như Cửa Tùng, Cửa Việt, Mỹ Thủy, Triệu Lăng và đảo Cồn Cỏ. 
- Du lịch rừng, sinh thái: có những cánh rừng nguyên sinh Rú Lịnh, khu bảo tồn thiên nhiên Đa Krông, Bắc Hướng Hóa, có suối nước nóng ở Đakrông, khu vực hồ Rào Quán - Khe Sanh, Khe Gió, Trằm Trà Lộc... 
Ngoài ra, Quảng Trị có vị trí đầu cầu trên hành lang kinh tế Đông - Tây, điểm kết nối giữa sản phẩm du lịch Đông - Tây, Con đường di sản miền Trung và Con đường huyền thoại. 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn