21:04 Thứ tư, 23/08/2017

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 74


Hôm nayHôm nay : 181

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 2511

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 100552

trung tam tin hoc

Trang nhất » Tin Tức » Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội

Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội

Thứ hai - 09/02/2015 09:03
Quảng Trị là tỉnh có hệ thống giao thông đa dạng, bao gồm cả đường bộ, đường sắt, đường thuỷ nội địa và đường biển.

2.5.1. Thực trạng phát triển giao thông

Quảng Trị là tỉnh có hệ thống giao thông đa dạng, bao gồm cả đường bộ, đường sắt, đường thuỷ nội địa và đường biển.

a. Giao thông đường bộ:

* Quốc lộ:Gồm 4 tuyến quốc lộ chạy qua địa bàn 9/10 huyện thị (trừ huyện đảo Cồn Cỏ), với tổng chiều dài 376,7 km, trong đó:

+ Quốc lộ 1A - là tuyến giao thông huyết mạch chạy xuyên suốt từ Bắc xuống Nam qua 7/10 huyện, thành phố, thị xã với chiều dài 75 km. Nền đường rộng 12m (đoạn qua các thành phố, thị xã, thị trấn rộng theo quy hoạch đô thị), toàn bộ mặt đường được trải bê tông nhựa. 

+ Quốc lộ 9. Từ cảng Cửa Việt đến cửa khẩu quốc tế Lao Bảo, tổng chiều dài 118,2 km, nền rộng từ 12 - 33 m, đạt tiêu chuẩn cấp III đồng bằng.

+ Đường Hồ Chí Minh (nhánh Đông dài 44 km, nền rộng 9 - 22 m; nhánh Tây dài 139 km nền rộng 6,5 - 18 m). Đạt tiêu chẩn cấp IV đồng bằng

* Tỉnh lộ: Có 22 tuyến với tổng chiều dài 320,02 km (trong đó: bê tông nhựa 67,35 km; bê tông xi măng 0,86 km; đá nhựa 171,08 km; cấp phối 80,73km). Các tuyến đường có nền phổ biến 6 - 12 m, mặt 5,5 - 6 m và đạt từ cấp V - VI đồng bằng.

*  Đường đô thị:Có 230 tuyến, chiều dài 227,64 km, trong đó tỉnh quản lý 48 tuyến (thành phố Đông Hà có 34 tuyến với tổng chiều dài 44,63 km; thị xã Quảng Trị có 14 tuyến với tổng chiều dài 16,5 km). Trong 227,64 km đường đô thị có: 56,21 km bê tông nhựa; 9,74 km bê tông xi măng; 50,48 km đá nhựa; 98,72km cấp phối, các loại khác 12,49 km...

* Đường huyện: Có tổng 145 tuyến với chiều dài 838,21 km, trong đó: 93,15 km bê tông nhựa; 12,77 km bê tông xi măng; 84,32 km đá nhựa; 363,17km cấp phối; các loại khác 284,8 km. Các tuyến đường huyện có nền phổ biến 5 – 9 m, mặt 3,5 – 6 m và đạt từ cấp V - VI, loại đường GTNT A, B.

* Đường xã: Đến nay 100% số xã có đường ô tô đến trung tâm xã. Hệ thống giao thông nông thôn, giao thông miền núi có bước phát triển đáng kể, tuy nhiên đường đến các thôn, bản tại các huyện miền núi chủ yếu là đường đất, mùa mưa đi lại khó khăn. Toàn tỉnh hiện có 1.252,68 km (trong đó: bê tông nhựa và đá nhựa chiếm 44,08%; cấp phối chiếm 21,66%; còn lại đường đất).

*  Đường chuyên dùng: Trên địa bàn toàn tỉnh có 102,20 km, trong đó khu Kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo có 8,7 km; khu du lịch có 6,5 km; đường biên phòng Sa Trầm - Ba Tầng 7,0 km; đường biên phòng Lao Bảo – Hướng Phùng 20,0 km; đường biên phòng A Vao - Tà Mên 40,0 km; đường Hong Cóc 20km.

*  Bến, bãi đỗ xe: Hiện tại trên địa bàn tỉnh có 2 bến xe đạt tiêu chuẩn loại 3 (bến xe đông Hà, bến xe Lao Bảo); 6 bến xe nội tỉnh do UBND tỉnh quản lý (Hồ Xá, Khe Sanh, Quảng Trị, Hải Lăng, Bắc cầu Đông Hà) và 7 bến xe cấp huyện, 1 điểm dừng xe Bắc Nam.

Nhìn chung, hệ thống giao thông đường bộ được tập trung đầu tư cả về quy mô và chất lượng, tuy nhiên mạng lưới phân bố chưa đồng đều giữa các vùng, trong đó: ven biển (3,2 km/km2), đồng bằng (1,7 km/km2) và trung du miền núi (0,4 km/km2). Mật độ đường đạt 0,66 km/km2 và 5 km/1000 người (cả nước: 0,68 km/km2 và 2,69 km/1000 người; vùng Bắc Trung Bộ: 0,96 km/km2 và 3,4 km/1000 người). Quy mô đường nhỏ, các tuyến đường tỉnh chủ yếu đạt tiêu chuẩn cấp V, VI; các tuyến đường huyện chủ yếu đạt cấp VI trở xuống, đường xã còn nhiều tuyến chưa được xếp loại. Hệ thống cầu cống còn thiếu, còn nhiều cầu tải trọng thấp, khổ hẹp không đáp ứng được khả năng thông xe.

Bảng 1.22: Thống kê các loại đường trên địa bàn tỉnh năm 2010

STT

Loại đường

Chiều dài (Km)

Loại mặt đường

Nhựa, BTN

Cấp phối

Đất

Km

%

Km

%

Km

%

1

Quốc lộ

376,70

376,70

100,00

0,00

0,00

0,00

0,00

2

Đường tỉnh

320,02

239,29

74,77

80,73

25,23

0,00

0,00

3

Đường đô thị

227,64

116,43

51,15

98,72

43,37

12,49

5,48

4

Đường huyện

838,21

190,24

22,70

363,17

43,33

284,80

33,97

5

Đường xã

1.252,68

552,17

44,04

271,37

21,66

459,14

34,30

        b. Đường sắt:Có 76 km tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy qua địa bàn tỉnh với 1 ga đạt tiêu chuẩn cấp 4 (ga Đông Hà), 6 ga đạt tiêu chuẩn cấp 3 (Sa Lung, Tiên An, Hà Thanh, Quảng Trị, Diên Sanh, Mỹ Chánh) và 1 trạm Vĩnh Thủy phục vụ hành khách. Nhìn chung hiệu quả hoạt động của các nhà ga còn hạn chế, khối lượng xếp dỡ, vận chuyển hàng hóa và hành khách không đáng kể do các tuyến đường bộ đến các ga không thuận lợi.

c. Đường thủy:Tuyến đường sông chạy trên địa bàn tỉnh Quảng Trị có tổng chiều dài trên 400 km, trong đó khoảng 300 km đang khai thác, hoạt động vận tải với 4 sông lớn bao gồm sông Thạch Hãn, sông Hiếu, sông Bến Hải và sông Mỹ Chánh. Đã đưa vào quản lý 129 km giao thông đường sông (Trung ương 73 km, tỉnh 56 km).

- Cảng sông: Có 1 cảng sông trên tuyến sông Hiếu (thuộc Thành phố Đông Hà) khả năng thông qua bến 50.000 tấn/năm, loại tàu có trọng tải 200 - 250 tấn. Ngoài ra còn có 1 bến thuyền chợ Đông Hà, 1 bến thuyền chợ tại thị xã Quảng Trị.

- Cảng biển: Cảng Cửa Việt có 2 cầu cảng dài 128 m, dùng cho tàu thuyền hoạt động vận tải. Cảng Đông Hà do được xây dựng trước năm 1975 nên đến nay đã bị hư hỏng không sử dụng được, cần được nâng cấp, làm mới.

d. Đường hàng không: Quảng Trị có 2 sân bay sân bay Ái Tử (Triệu Phong); sân bay Tà Cơn (Hướng Hóa) tuy nhiên hiện nay cả 2 sân bay đều không đủ điều kiện hoạt động và khai thác.

e. Cửa khẩu: Quảng Trị có cửa khẩu quốc tế Lao Bảo, cửa khẩu quốc gia La Lay và 4 cửa khẩu phụ Tà Rùng, Cheng, Thanh, Cóc với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Trong những năm qua, cửa khẩu quốc tế Lao Bảo được đầu tư xây dựng, cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật hiện đại, công tác cải cách thủ thục hành chính được đẩy mạnh đã tạo thuận lợi cho việc xuất nhập cảnh, xuất nhập khẩu hàng hóa và phương tiện qua lại trên tuyến hành lang kinh tế Đông - Tây.

2.5.2. Thực trạng phát triển thủy lợi, nước sạch

- Công trình thủy lợi:Tính đến cuối năm 2010, ngoài hệ thống kênh mương thủy lợi, toàn tỉnh có hơn 300 công trình, trong đó có 8 hồ đập lớn và vừa, 192 hồ đập nhỏ, 101 trạm bơm... chương trình kiên cố hoá kênh mương đã thực hiện được 552 km. Tổng năng lực tưới thiết kế các hồ đập, trạm bơm là: 61.250 ha (trong đó tưới vụ đông xuân 24.610 ha; tưới vụ hè thu 18.640 ha; tiêu úng 5.000 ha và ngăn mặn, chống lũ sớm 13.000 ha). Một số công trình có qui mô lớn đã hoàn thành và mang lại hiệu quả lớn trên địa bàn tỉnh như hệ thống thủy lợi Trúc Kinh, Bảo Đài, hồ Ái Tử, hồ Nghĩa Hy, công trình thuỷ điện - thuỷ lợi Quảng Trị...

- Công trình đê trực tiếp biển: Hiện tại có 7 km (tuyến đê Vĩnh Thái huyện Vĩnh Linh) có nhiệm vụ chống triều cường và sóng biển xâm nhập mặn vào vùng đồng bằng, bảo vệ dân cư trong mùa mưa bão.

- Hệ thống đê cửa sông: Tổng chiều dài các tuyến đê là 92,8 km. Bao gồm các tuyến đê: Tả, Hữu Bến Hải; Tả, Hữu Thạch Hãn; Tả Ô Lâu. Nhiệm vụ chính của đê là ngăn lũ Tiểu mãn, lũ sớm vào cuối vụ hè thu và bảo vệ an toàn cho đê khi lũ chính vụ tràn qua.

- Công trình kè bảo vệ bờ sông:Tổng chiều dài của các đoạn kè khoảng 45 km thuộc sông Thạch Hãn, sông Bến Hải, sông Hiếu.

- Công trình hệ thống đê cát: Đê cát có tổng chiều dài 48,6 km (trong đó đê phân thuỷ có chiều dài 18,0km) được bố trí dọc vùng cát ven biển các huyện Gio Linh, Triệu Phong, Hải Lăng, có nhiệm vụ chống cát lấp, cát bay và bảo vệ an toàn cho 23 xã vùng ven cát.

Trong những năm qua các công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh được đầu tư đáng kể từ nhiều nguồn vốn khác nhau, chính vì vậy mà năng lực tưới ngày càng được nâng lên. Tuy nhiên công tác phát triển thuỷ lợi còn những tồn tại: Các công trình thuỷ lợi mặc dù vẫn thường xuyên tu bổ nhưng sau nhiều năm khai thác và thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai nên đã xuống cấp; các vùng cuối nguồn, vụ hè thu thường thiếu nước sản xuất;Hiện nay còn nhiều vùng như: Cùa (Cam Lộ), Tây Gio Linh, vùng Hướng Hoá, ĐaKrông chưa có nước để chủ động tưới cho cây công nghiệp. Hệ thống đê chống lũ cho công trình Nam Thạch Hãn chưa đảm bảo an toàn về mùa lũ.

Diện tích thực tế hiện nay các công trình phục vụ: Lúa Đông xuân: 16.000 ha (đạt 65 % năng lực thiết kế); Lúa Hè thu: 12.000 ha (đạt 65% năng lực thiết kế); Ngăn mặn và chống lũ tiểu mãn đã đạt 10.000/13.000 ha; Tiêu úng: 5.000/7.500 ha; Cải tạo vùng cát ven biển: 5.000/22.500 ha.

- Nước sạch:Hiện tại thành phố Đông Hà, thị xã Quảng Trị và 11/11 thị trấn đã có hệ thống cấp nước máy. Hiện tại trên địa bàn tỉnh có 10 nhà máy nước, tỷ lệ dân số thành thị sử dụng nước sạch 74% và tỷ lệ dân số nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh 85%.

2.5.3. Thực trạng phát triển giáo dục - đào tạo

Với mục tiêu coi sự nghiệp giáo dục là nhiệm vụ hàng đầu, trong những năm qua cơ sở vật chất các nhà trường trên địa bàn tỉnh không ngừng được tăng cường đầu tư,đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu học tập của người dân.

- Giáo dục phổ thông và mầm non: Hiện tại trên địa bàn toàn tỉnh có 152 trường mẫu giáo; 162 trường tiểu học (có 1 trường trẻ em khuyết tật); 115 trường trung học cơ sở; 29 trường trung học phổ thông; 3 trường phổ thông dân tộc nội trú; 17 trường phổ thông cơ sở. Tỷ lệ các trường phổ thông được cao tầng hóa, kiên cố hóa đạt 65% (các xã đặc biệt khó khăn miền núi tỉ lệ kiên cố hóa đạt 70%).

Tỷ lệ huy động học sinh đến trường của các cấp học tăng nhanh, trong giai đoạn 2000 - 2010, số học sinh phổ thông các cấp học tăng bình quân 1,5%/năm (1.200 - 1.500 học sinh). Công tác đào tạo, bồi dưỡng, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ giáo viên được quan tâm chỉ đạo và thực hiện đạt kết quả khá, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn khá cao: hệ mẫu giáo đạt 92,53% (trên chuẩn 32,5%), tiểu học 98,46% (trên chuẩn 45,55%), THCS 96,9% (trên chuẩn 45,7%), THPT 99,51% (trên chuẩn 3,4%). Đến nay đã có 100% huyện, thành phố, thị xã và 141/141 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Cuối năm học 2009 – 2010 trên địa bàn toàn tỉnh số trường đạt chuẩn quốc gia: Mầm non (35 trường); Tiểu học (95 trường, trong đó có 19 trường đạt chuẩn mức 2); THCS (29 trường); THPT (3 trường); Bình quân hàng năm có 17 - 22% học sinh tốt nghiệp THPT trúng tuyển vào các trường đại học, cao đẳng và THCN.

Mặc dù đã đạt được một số thành tích đáng kể, nhưng công tác giáo dục - đào tạocủa tỉnh vẫn còn một số tồn tại nhất định: Hiện tại vẫn còn khoảng 15% số xã chưa có trường mẫu giáo, 11% số xã chưa có trường THCS và sự chênh lệch diện tích giữa các trường, các khu vực trong tỉnh lớn. Số trường đạt chuẩn quốc gia còn chưa đáng kể; số phòng học cũ, hư hỏng nặng vẫn còn nhiều; các phòng chức năng nhạc họa, thư viện, thí nghiệm thực hành, phòng bộ môn không đúng quy cách và còn thiếu trầm trọng;...

- Giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề cũng được quan tâm phát triển, đến nay trên địa bàn đã có 1 phân hiệu Đại học (phân hiệu Đại học Huế tại Quảng Trị) 01 trường Cao đẳng (trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Trị), 04 trường Trung cấp (Trung cấp nghề tổng hợp Quảng Trị, Trung cấp nghề Mai Lĩnh, Trung cấp NN-PTNT, Trung cấp Y tế); 1 trường Công nhân kỹ thuật nghiệp vụ GTVT, 10 Trung tâm Giáo dục thường xuyên, 10 Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp dạy nghề... phát triển trên địa bàn các huyện, thành phố, thị xã.

- Hoạt động xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh. Loại hình trường dân lập, bán công, tư thục có xu hướng phát triển. Mô hình trung tâm văn hóa - giáo dục cộng đồng được xây dựng ở nhiều địa phương, đến nay 130/141 xã có trung tâm học tập công đồng. Tỉnh đã thực hiện một số chính sách hỗ trợ xây dựng nhà ở cho giáo viên vùng khó khăn; hỗ trợ bảo hiểm xã hội cho giáo viên mầm non ngoài biên chế, giáo viên vùng sâu, vùng xa...

2.5.4. Thực trạng phát triển y tế

Ngành y tế của tỉnh trong những năm qua đã có nhiều cố gắng trong việc chăm sóc sức khỏe nhân dân, được đầu tư phát triển về cơ sở vật chất trang thiết bị; đội ngũ cán bộ y tế được nâng lên cả về số lượng và chất lượng.

- Triển khai tốt các chương trình y tế quốc gia, y tế dự phòng, công tác tuyên truyền phòng chống các bệnh xã hội, công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em, thực hiện khám chữa bệnh miễn phí đối với người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và đồng bào dân tộc thiểu số. Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi giảm từ 36,1% năm 2000 xuống còn dưới 20,0% năm 2010.

- Mạng lưới cơ sở y tế không ngừng được củng cố và mở rộng. Toàn tỉnh hiện có 10 bệnh viện đa khoa (trong đó có 1 bệnh viện đa khoa tỉnh, 1 bệnh viện đa khoa khu vực Triệu Hải và 8 bệnh viện đa khoa huyện); 5 phòng khám đa khoa khu vực; 1 bệnh viện điều dưỡng và PHCN, 1 Phòng QLSK cán bộ tỉnh; 141 trạm y tế xã phường, thị trấn. Bệnh viện Đa khoa tỉnh đang được quy hoạch đạt chuẩn và đầu tư xây mới; 7/9 trung tâm y tế huyện, thành phố, thị xã đang được xây dựng mới. Ngoài ra khối dự phòng của tỉnh có 09 trung tâm chuyên sâu (tất cả đặt tại thành phố Đông Hà) và các cơ sở y tế của quân đội, an ninh đóng trên địa bàn tỉnh. Công tác xã hội hoá y tế đang phát triển mạnh, nhiều cơ sở khám, chữa bệnh tư nhân được hình thành giải quyết đáng kể nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân.

- Năm 2010 toàn tỉnh có 93/141 xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế (chiếm 66% số xã); 55,32% số trạm y tế xã có bác sĩ (của cả nước 65%). Tổng số giường bệnh là 2.047 giường (trong đó tuyến xã có 717 GB, tuyến huyện có 620 GB, tuyến tỉnh có 710 GB), bình quân đạt 31,74 giường bệnh/1 vạn dân (trong đó tuyến tỉnh, huyện là 22,22 giường bệnh/1 vạn dân). Có 2307 cán bộ ngành y (trong đó có 382 bác sỹ), bình quân số cán bộ y tế là 36 người/1 vạn dân và đạt 6,1 bác sỹ/1 vạn dân.

Mặc dù vậy, hiện nay trang thiết bị phục vụ khám chữa bệnh nhìn chung vẫn còn thiếu và yếu với nhu cầu thực tế, hệ thống xử lý chất thải y tế chưa đảm bảo. Chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân vẫn còn có những hạn chế nhất định, hoạt động y tế ở tuyến cơ sở chưa đồng đều, một số nơi có địa bàn rộng, bán kính phục vụ của trạm y tế quá xa... Diện tích đất dành cho sự nghiệp y tế ở cả 3 cấp của tỉnh còn quá ít, đặc biệt cấp xã vẫn còn 84 trạm y tế diện tích đất chưa đạt tiêu chuẩn tối thiểu (trong đó có 10 nhà trạm có diện tích < 50m2 và 74 nhà trạm có diện tích < 90m2). Vì thế để tạo điều kiện cho ngành y tế nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cần có sự quan tâm và đầu tư hơn nữa cả về trang thiết bị cũng như cơ sở vật chất. Việc xây dựng thêm và mở rộng các công trình y tế, mặc dù diện tích chiếm đất không lớn, song ít nhiều cũng gây áp lực đối với đất đai của tỉnh.

2.5.5. Thực trạng phát triển văn hoá - thông tin

Hoạt động văn hoá, nghệ thuật, truyền thông, thông tin cổ động của tỉnh phát triển tốt cả về số lượng và quy mô, nội dung và hình thức. Chất lượng văn hoá - chính trị và khoa học từng bước nâng cao, góp phần giáo dục chính trị, nâng cao dân trí, xây dựng nếp sống văn minh, lành mạnh, tăng cường đoàn kết các dân tộc, nâng cao chất lượng hưởng thụ văn hoá tinh thần của nhân dân.

Công tác quản lý, bảo tồn di tích danh thắng, cổ vật, tổ chức sinh hoạt truyền thống, triển lãm... được chú trọng. Các công trình văn hóa, di tích lịch sử được đầu tư tôn tạo và bảo vệ.

Hoạt động xuất bản, phát hành sách báo, tạp chí văn hoá phẩm ngày càng mạnh, số lượng phát hành hàng năm tăng từ 60 - 150%. Hệ thống thư viện được củng cố và duy trì hoạt động thường xuyên, đến nay toàn tỉnh có 1 thư viện khoa học tổng hợp; 8/10 huyện, thành phố có thư viện với trên 80 nghìn bản sách; 7,1% số xã, phường, thị trấn có thư viện...

Công tác phát thanh truyền hình được phát triển, cơ sở vật chất được đầu tư đáng kể từ đài tỉnh đến huyện và các xã, phường, thị trấn... Đến năm 2010 đã phủ sóng phát thanh đạt 95%, truyền hình đạt 85% địa bàn dân cư. Hiện có 100% xã và 85% thôn, bản được cung cấp báo Đảng.

Phong trào xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá mới và các thiết chế văn hoá ở cơ sở đang được đông đảo nhân dân hưởng ứng, các thiết chế văn hóa được tăng cường, văn hóa cơ sở được chú trọng phát triển. Tính đến cuối năm 2010 toàn tỉnh có khoảng 600 nhà văn hóa được xây dựng; 99.289/133.095 gia đình, 1.340/1.799 làng bản, khu phố cơ quan, đơn vị trường học được công nhận đạt chuẩn văn hóa.

Mặc dù hoạt động văn hóa thông tin của tỉnh khá phát triển nhưng cơ sở vật chất còn nhiều hạn chế, đặc biệt cấp xã. Hiện tại toàn tỉnh có 29 NVH xã và 277 NVH làng bản đạt tiêu chuẩn; diện tích đất công viên, các cơ sở văn hóa của tỉnh còn chiếm tỷ lệ rất thấp: Bình quân diện tích đất công viên cây xanh/người khu vực đô thị đạt 0,33 m2; khu vực nông thôn gần như không có. Bình quân đất cơ sở văn hóa của tỉnh chỉ đạt 2,09 m2/người (theo định mức 6 – 8 m2/người).

2.5.6. Thực trạng phát triển thể dục - thể thao

Phong trào thể dục thể thao của tỉnh được phát triển sâu rộng ở các địa bàn dân cư, cơ quan, trường học, lực lượng vũ trang vàở mọi tầng lớp nhân dân. Các môn thể thao phong phú và quy mô thi đấu ngày được mở rộng. Những môn thể thao thu hút nhiều đối tượng tham gia như bóng đá, bóng chuyền, cầu lông, điền kinh, đua xe đạp,... Công tác xã hội hóa TDTT đã đạt kết quả bước đầu, đến nay có 24,3% dân số và 14% số hộ gia đình tập luyện thể dục thể thao thường xuyên, số hộ đạt tiêu chuẩn gia đình thể thao chiếm 10,5%. Hoạt động thể thao người khuyến tật phát triển, tham gia giải toàn quốc đạt thứ hạng cao.

Hiện tại ở tỉnh lỵ có sân vận động, nhà tập luyện, sân quần vợt, khu liên hợp TDTT đã đầu tư xây dựng bể bơi, nhà thi đấu huấn luyện và thi đấu thể thao; cấp huyện có 4 sân bóng đá, 6 nhà thi đấu, hàng chục nhà tập luyện cầu lông, bóng bàn; cấp xã, làng bản có 256 sân bóng đá, 680 sân bóng chuyền. Nhìn chung thực trạng các cơ sở, sân bãi, trang thiết bị còn rất thiếu thốn và lạc hậu do nguồn kinh phí hạn hẹp,... đã ảnh hưởng đến sự phát triển chung của ngành nhất là cơ sở cấp xã, phường và khu vực vùng sâu, vùng xa. Bình quân diện tích 4,2 m2/người (trong khi định mức theo tiêu chuẩn là 6,5 m2/người).

2.5.7. Thực trạng phát triển năng lượng

Mạng lưới điện được phát triển rộng khắp trên địa bàn tỉnh, ngoài lưới điện cao áp 500 KV, 220 KV, 110 KV, toàn tỉnh hiện có 323,767km tuyến 35Kv; 1030,42 km đường dây 22kv và 10kv; 1018 trạm biến áp (trong đó TBA 10/0,4Kv là 155 trạm; TBA 10 (22)/0,4Kv là 351 trạm) với tổng dung lượng gần 145.189 KVA và có cụm máy phát Diezel Khe Mây tại Đông Hà với 4 tổ máy phát với tổng công suất lắp đặt 2160 Kw, 7 công trình thủy điện đang được đầu tư xây dựng, trong đó có thủy điện Quảng trị (công suất 64MW) đang được chạy thử nghiệm. Tính đến nay 100% xã, phường, thị trấn và 97,52% số hộ sử dụng điện lưới quốc gia.

2.5.8. Thực trạng phát triển bưu chính, viễn thông

Toàn tỉnh có 63 tổng đài điện thoại với tổng dung lượng 82.791 số và 109 tuyến truyền dẫn nội tỉnh. Có 164 trạm BTS mạng di động phủ sóng khắp toàn tỉnh. Đến cuối năm 2010 tổng số thuê bao điện thoại là 468.618 thuê bao (trong đó cố định 116.497 thuê bao, di động 352.121 thuê bao); mật độ điện thoại đạt 52,60 máy/100 dân, trong đó máy cố định đạt 19,44 máy/100 dân; có 190 điểm phục vụ, trong đó có 1 bưu cục trung tâm, 8 bưu cục cấp huyện, 33 bưu cục khu vực; 110 điểm bưu điện - văn hóa xã...

Hạ tầng công nghệ thông tin, mạng Internet có bước phát triểnnhanh, bước đầu đáp ứng nhu cầu truy cập internet của nhân dân. Đến năm 2010, toàn tỉnh khoảng 90% các cơ quan trong hệ thống chính trị có kết nối mạng Internet; 100% các cơ quan cấp huyện có hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý chuyên ngành; 80% các trường từ THCS trở lên, các cơ sở y tế kết nối Internet, có 17.264 thuê bao.

Bảng 1.23: Thống kê máy điện thoại giai đoạn 2000 - 2010

Chỉ tiêu

Đơn vị tính

Năm 2000

Năm 2005

Năm 2010

1.Tổng số máy đ.thoại

máy

16.140

62.341

468.618

- Cố định

máy

14.842

41.391

116.497

- Di động

máy

1.298

20.950

352.121

2. Bình quân (máy/100 dân)

máy

2,78

10,03

78,52

2.5.9. Thực trạng phát triển khoa học, công nghệ

- Hệ thống tổ chức các trung tâm triển khai KHCN được cải tiến đổi mới, cơ sở vất chất không ngừng được đầu tư phát triển. Hiện nay toàn tỉnh có trên 20 tổ chức khoa học và công nghệ hoạt động phát huy có hiệu quả và có bước phát triển mới. Hoạt động khoa học, công nghệ của các ngành, huyện, thành phố, thị xã tiếp tục phát triển cả về phạm vi, quy mô ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật và xã hội hóa về khoa học và công nghệ trong sản xuất và đời sống mang lại kết quả thiết thực.

 - Trong các cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp triển khai ứng dụng đồng bộ các phần mềm dùng chung, các chương trình hỗ trợ quản lý và điều hành tác nghiệp; 100% các cơ quan đơn vị quản lý Nhà nước thực hiện trao đổi thông tin qua mạng; 100% cán bộ công chức làm việc trên máy tính có hộp thư điện tử.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn