16:00 Thứ năm, 29/06/2017

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 23


Hôm nayHôm nay : 166

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 5448

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 94554

trung tam tin hoc

Trang nhất » Tin Tức » Tình hình quản lý, sử dụng đất » Hiện trang sử dụng đất và biến động các loại đất

Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường, tính hợp lý của việc sử dụng đất

Thứ hai - 09/02/2015 09:20
Sản xuất nông, lâm nghiệp cơ bản từ bỏ quảng canh, đi vào thâm canh, coi trọng hiệu quả kinh tế/đơn vị diện tích. Đã có những chính sách hợp lý để khuyến khích việc khai hoang cải tạo đất chưa sử dụng để mở rộng diện tích đất sản xuất nông nghiệp

2.3.1. Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của việc sử dụng đất

a. Hiệu quả kinh tế - xã hội

- Sản xuất nông, lâm nghiệp cơ bản từ bỏ quảng canh, đi vào thâm canh, coi trọng hiệu quả kinh tế/đơn vị diện tích. Đã có những chính sách hợp lý để khuyến khích việc khai hoang cải tạo đất chưa sử dụng để mở rộng diện tích đất sản xuất nông nghiệp; phủ xanh đất trống đồi núi trọc; bảo vệ và phát triển rừng nên diện tích đất nông nghiệp đã tăng lên đáng kể; môi trường sinh thái ngày càng được cải thiện.

- Thực hiện giao đất sản xuất nông nghiệp ổn định cùng với các chính sách đẩy mạnh sản xuất hàng hoá đã làm cho nông dân năng động hơn, bố trí hợp lý cơ cấu cây trồng, vật nuôi; phát triển nhiều vườn cây ăn quả, cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao. Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tăng đáng kể, đưa sản lượng lương thực có hạt bình quân mỗi năm tăng 6.000 - 7.000 tấn, cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu lương thực tại chỗ cho nhân dân.

- Đất lâm nghiệp mỗi năm tăng 10 - 14 nghìn ha, bao gồm cả việc trồng mới rừng trên đất trống đồi núi trọc và khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên, góp phần giải quyết được khoảng 3300 - 3500 việc làm và cải thiện môi trường, chống xói mòn đất, nâng cao tỷ lệ che phủ của rừng (đạt 46,2%).

- Việc bố trí quỹ đất đáp ứng nhu cầu xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển công nghiệp, dịch vụ, chỉnh trang và xây dựng mới các khu dân cư đô thị, nông thôn, quản lý chặt chẽ việc chuyển đất sản xuất nông nghiệp sang các mục đích phi nông nghiệp... đã tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển với tốc độ tăng trưởng bình quân 10 - 12%/năm.

b. Hiệu quả môi trường

Việc khai thác các loại tài nguyên khoáng sản thiếu sự kiểm soát đã dẫn đến ô nhiễm hủy hoại môi trường sinh thái nói chung và môi trường đất nói riêng.

Việc khai thác, chặt phá tài nguyên rừng bừa bãi đã làm rửa trôi, xói mòn đất, gây hạn hán, lũ lụt.

Việc sử dụng các chất hoá học trong nông nghiệp, khai thác khoáng sản... đã và đang là nguyên nhân làm giảm số lượng của nhiều loại vi sinh vật có ích, làm giảm đa dạng sinh học cũng như tăng hàm lượng các chất gây độc trong đất do hàm lượng tồn dư.

Ngoài ra, tập quán sinh hoạt của người dân, các chất thải, nước thải, rác thải trong các khu dân cư đô thị, khu du lịch, khu công nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh... cũng là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường sống cũng như tác động xấu đến môi trường đất.

2.3.2. Tính hợp lý của việc sử dụng đất

a. Cơ cấu sử dụng đất.

- Đất nông nghiệp chiếm tỷ trọng rất cao (chiếm 90,68% diện tích đất đang sử dụng và 80,48% tổng diện tích tự nhiên). Trong đất nông nghiệp, diện tích đất lâm nghiệp chiếm 76,07%, đất sản xuất nông nghiệp 23,21%.

- Đất phi nông nghiệp chiếm tỷ lệ còn thấp trong cơ cấu sử dụng đất của tỉnh (chiếm 8,35% tổng diện tích tự nhiên và chiếm 9,31% tổng diện tích đất đang sử dụng). Trong đất phi nông nghiệp, diện tích đất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh đất phi nông nghiệp chỉ chiếm 2,49%; đất cho phát triển cơ sở hạ tầng (cả hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật) chiếm 34,64%.

- Đất chưa sử dụng được khai thác đưa vào sử dụng khá triệt để trong những năm qua nhưng vẫn còn chiếm 11,20% trong cơ cấu sử dụng đất.

b. Mức độ thích hợp của từng loại đất so với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

- Trong lĩnh vực nông nghiệp: Đã cơ bản ổn định việc sử dụng đất cho nông hộ. Sản xuất nông nghiệp đang dần đi vào chiều sâu thông qua các giải pháp tích cực để tăng vụ sản xuất, tăng lượng nông sản hàng hoá phục vụ xuất khẩu. Cải tạo triệt để đất chưa sử dụng để làm tăng hiệu quả sử dụng đất, tạo nguồn bổ sung cho quỹ đất nông nghiệp bị chu chuyển trong kỳ. Độ che phủ rừng và cây lâu năm gia tăng 46,2%năm 2009 cho thấy xu thế phát triển cây lâu năm, cây ăn quả, cây phân tán và tích cực trồng mới, bảo vệ rừng. Giá trị sản xuất tăng từ 27 triệu đồng/ha/năm 2000 (giá thực tế) đã tăng lên gần 33 triệu đồng/ha/năm 2005 và 43 triệu đồng/ha/năm 2009, đặc biệt giá trị sản xuất thuỷ sản đạt rất cao bình quân trên 1 tỷ đồng/ha/năm.

- Trong lĩnh vực phi nông nghiệp: Đất phi nông nghiệp chiếm chỉ 8,26% diện tích tự nhiên nhưng giá trị sản xuất chiếm đến gần 70% trong cơ cấu kinh tế cho thấy tỉnh đã có nhiều tiến bộ vượt bậc trong quá trình phát triển kinh tế xã hội. Tuy quỹ đất phi nông nghiệp tăng chậm nhưng trong lĩnh vực công nghiệp đã hình thành 2 khu công nghiệp quy mô lớn (tổng cộng gần 200 ha), phát triển quỹ đất để đầu tư các khu kinh tế cửa khẩu và phát triển du lịch, do vậy tốc độ tăng trưởng các khu vực công nghiệp luôn ở mức trên 12% và thương mại dịch vụ luôn đạt trên 10% trong suốt giai đoạn qua; Cơ sở hạ tầng, mạng lưới giao thông từng bước được sửa chữa, nâng cấp và mở mới qua các năm.

2.3.3. Những tồn tại chủ yếu trong sử dụng đất, nguyên nhân chính và giải pháp khắc phục

- Việc khai thác quá tải tài nguyên rừng cũng như nạn chặt phá rừng bừa bãi trong những năm trước đây đã để lại những hậu quả nghiêm trọng, cần có thời gian để khắc phục. Mặc dù diện tích trồng mới rừng không ngừng được tăng lên, công tác quản lý, bảo vệ ngày càng được tăng cường song thực trạng độ che phủ bằng cây rừng hiện nay vẫn chưa đảm bảo an toàn cho môi trường sinh thái.

- Quỹ đất dành cho các hoạt động phát triển kinh tế, phát triển các khu công nghiệp, khu du lịch... chưa được khai thác sử dụng hiệu quả, một số công trình, dự án đã được giao đất nhưng tiến độ triển khai còn chậm hoặc chưa được thực hiện, gây lãng phí trong sử dụng đất.

- Việc sử dụng đất trong các lĩnh vực lâm nghiệp, thủy sản, du lịch, quốc phòng an ninh cũng gặp nhiều vướng mắc do còn có sự chồng chéo giữa quy hoạch phát triển của các ngành, hạn chế trong việc phát huy lợi thế của từng lĩnh vực.

- Việc mất đất sản xuất nông nghiệp cho các mục đích phát triển công nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng và đô thị hoá là điều tất yếu trong quá trình phát triển theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá trong giai đoạn từ nay đến năm 2020 và các năm tiếp theo, song đây lại là vấn đề cần được quan tâm nhiều trong khi trên địa bàn tỉnh hiện vẫn còn một bộ phận không nhỏ đồng bào dân tộc thiểu số đang thiếu đất sản xuất.

- Chính sách bồi thường tái định cư thiếu đồng bộ, thực hiện thiếu thống nhất cũng là nguyên nhân gây nhiều khó khăn khi Nhà nước thu hồi đất, đặc biệt khi thu hồi đất vào mục đích phát triển kinh tế - xã hội.

Để khắc phục những tồn tại nêu trên cần quan tâm một số vấn đề cơ bản sau:

- Cần quy hoạch ổn định diện tích đất sản xuất nông nghiệp trên cơ sở phù hợp với tiềm năng đất đai của từng khu vực, thực hiện đầu tư thâm canh theo chiều sâu, sản xuất tập trung tạo ra sản phẩm hàng hóa theo hướng xuất khẩu. Tăng cường có hiệu quả công tác trồng rừng và bảo vệ rừng, duy trì diện tích thành rừng hiện có, đặc biệt là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng.

          - Đầu tư phát triển đồng bộ hạ tầng kinh tế, hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội; tăng cường sức hút đầu tư phát triển kinh tế, đô thị bằng những chính sách hợp lý cũng như ưu tiên đầu tư vốn cho các công trình, dự án trọng điểm.

          - Xây dựng quy hoạch thống nhất trên địa bàn toàn tỉnh, quản lý và sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch đã được duyệt. Kiên quyết xử lý dứt điểm tình trạng

lấn chiếm, sử dụng đất sai mục đích.

          - Cụ thể hóa các văn bản pháp luật đất đai của Nhà nước vào tình hình thực tế của địa phương, tăng cường năng lực cho đội ngũ quản lý đất đai cấp cơ sở...

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin cũ hơn